Chương 2
4
Đến tháng Chạp, nghe tiểu nha hoàn đưa cơm nói, Giang Tiêu muốn nạp thiếp, tân phu nhân vì thế mà gây với chàng một trận, suýt làm rớt thai.
Ta đoán có lẽ vì tân phu nhân đang mang thai nên không thể cùng phòng.
Nhưng khi mẹ ruột của Huệ Nhi mất, ta vào cửa ba năm liền, Giang Tiêu đêm nào cũng ở phòng riêng, chàng khi ấy chịu đựng thế nào?
Nhớ đến lời Huệ Nhi nói, ta nghĩ chắc là bởi khi ấy chàng còn nhớ đến thê tử đầu.
Tình cảm thuở thiếu niên vốn đẹp nhất, người ấy mất rồi, những người sau đều trở thành sự tạm bợ.
Giang Tiêu trước đây có lẽ từng là một nam nhân si tình, nhưng nay chàng cũng thành người thế tục, nhìn thái độ của chàng với Huệ Nhi là rõ.
Tấm chân tình và lương tâm của chàng đều đã theo mẹ ruột Huệ Nhi mà đi mất.
Giang Tiêu cùng tân phu nhân gây chuyện, mẹ con ta chịu vạ lây, dạo này không ai đưa than cho, đến cả đồ ăn cũng bị cắt.
Ta dẫn Huệ Nhi đi tìm Giang Tiêu, thì biết chàng đã ra ngoài xa, lão phu nhân từ lâu không quản việc, đành phải tới gặp tân phu nhân.
Tân phu nhân không cho chúng ta vào cửa, chỉ nói chúng ta lắm chuyện, nếu thấy Giang phủ không tốt thì cứ tự tìm đường mà sống.
Nàng sai bà vú bên cạnh đuổi chúng ta ra ngoài.
Giữa trời đông giá rét, ta cùng Huệ Nhi mặc áo bông mỏng, không chỗ dung thân.
Ta dẫn con bé ra ngoài thành, ở đó có một ngôi miếu đổ, ít ra còn che được gió tuyết.
Nhưng Huệ Nhi bị lạnh, chưa kịp tới cửa thành đã phát sốt cao.
Ta bế con chạy trong tuyết, định tìm thầy thuốc.
Nhưng tuyết quá sâu, ta ôm Huệ Nhi không thể đi nhanh.
Có người qua đường, nhìn thấy ta thì chép miệng, nhưng chẳng một ai chịu giúp.
Ta ôm Huệ Nhi đang sốt cao mà khóc trong tuyết.
Nhiều năm trước, ta cũng từng ôm em trai như thế, nhìn em dần dần tắt thở.
Cha ta sa vào cờ bạc, mẹ bỏ đi, để lại hai chị em ta.
Cha định bán em, nhưng phát hiện em mắc đậu mùa, bèn bảo ta đem bỏ.
Nhìn gương mặt đỏ bừng của Huệ Nhi, ta hận Giang Tiêu thấu xương, như hồi nhỏ từng hận cha mình vậy.
Huệ Nhi đưa tay chạm lên mặt ta.
“Mẫu thân, con thấy mẹ ruột của con rồi, giống hệt người trong bức họa.”
Ta hoảng hốt, lớn tiếng gọi con:
“Huệ Nhi! Con nhìn mẫu thân này, đó không phải mẹ con, ta mới là, con không được đi theo nàng ấy!”
Trán con bé càng lúc càng nóng, không đáp lại ta nữa.
Ta cũng không còn khóc nổi, chỉ có thể ôm con, khẽ lẩm bẩm:
“Huệ Nhi đừng sợ, đừng sợ, con cứ đi theo mẹ ruột của con đi. Mẫu thân nhất định sẽ trở về Giang phủ, bắt họ phải đền mạng cho con!”
Trong cơn mơ hồ, bên tai vang lên một giọng nói.
“Phu nhân?”
Ta ngẩng lên trong mừng rỡ, nhưng người tới không phải Giang Tiêu, mà là một nam nhân xa lạ, khoác áo tơi, đội nón lá đến bên ta.
Hắn bế Huệ Nhi từ trong lòng ta, hỏi:
“Còn đi nổi không?”
Ta gật đầu, đứng lên lại loạng choạng, chân đã tê cứng vì lạnh.
Hắn nhíu mày, vác Huệ Nhi lên vai một tay, tay kia đỡ ta, bước đi vững chãi.
Nhà hắn cách đó chỉ vài bước, hắn dìu ta vào phòng, kéo chăn đắp chân cho ta, dùng chăn khác quấn Huệ Nhi rồi quay người đi ra.
Khi họ trở lại, Huệ Nhi đã hạ sốt, ngủ say trong vòng tay hắn.
Ta đón lấy con, suýt nữa rơi nước mắt.
Hắn cởi áo tơi, tháo nón lá, ngồi xuống uống một chén trà nóng mới hỏi ta:
“Ngươi là… chủ mẫu của Giang phủ?”
5
Ta khẽ cười khổ — nay ở đất Hoài Châu, còn ai không biết ta chỉ thiếu một tờ hưu thư nữa là thành vợ bị phế bỏ?
“Ta là mẫu thân của đứa nhỏ này, ta tên Thẩm Thanh Lê.”
Hắn liếc nhìn Huệ Nhi trong lòng ta, khẽ thở dài.
“Sao hai người lại thành ra thế này…”
Chuyện xót xa năm cũ, ta không muốn nhắc lại. Nhưng Huệ Nhi còn đang bệnh, ta đành khẩn cầu:
“Công tử có thể cho mẹ con ta nương nhờ vài hôm, đợi ta tìm được kế sinh nhai, sẽ dẫn Huệ Nhi rời đi.”
Hắn mím môi, đưa mắt nhìn quanh căn nhà, cuối cùng ánh mắt dừng lại ở khoảng trống nơi góc phòng.
“Nhà ta chỉ rộng chừng ấy, nếu cô không ngại, ta sẽ kê giường bên đó, dùng rèm vải ngăn lại.”
Gặp được người tốt rồi — cuối cùng mẹ con ta cũng không phải chịu rét nữa.
Hắn nói mình tên là Cố Vị Đình, là một tú tài, cha mẹ đều đã qua đời. Hiện làm việc ở doanh trại ngoài thành, giúp các quân sĩ viết thư nhà, kiếm ít bạc vụn, giờ vẫn chưa tích đủ lộ phí để lên kinh dự thi mùa thu.
Đêm ấy Huệ Nhi lại sốt cao, miệng cứ lảm nhảm mê sảng. Ta đút nước cho con, lại vắt khăn lau người, bận rộn đến nửa đêm mà vẫn chưa thấy hạ sốt. Ta sợ làm phiền Cố Vị Đình nghỉ ngơi, đành cắn răng nín khóc.
Hắn vẫn nghe thấy, liền khoác áo ra ngoài, ôm về một nắm tuyết.
“Dùng khăn gói lại, chườm lên trán và cổ con bé.”
Thấy ta ngơ ngác nhìn, hắn cười chất phác:
“Hôm nay ta đưa Huệ Nhi đi châm cứu, đại phu dạy vậy. Thuốc hạ sốt đắt quá, ta không mang đủ bạc.”
Cuối cùng Huệ Nhi cũng hạ sốt. Hai ta không ngủ được, cùng ngồi canh bên giường trò chuyện.
Ta có phần áy náy.
“Ta là phụ nhân mang theo hài tử mà trú tạm trong nhà công tử, e sau này sẽ khiến công tử khó mà bàn chuyện hôn nhân.
Ngày mai, trước khi người khác biết, ta sẽ đưa Huệ Nhi đi tìm chỗ ở khác.”
Ban ngày quá đỗi túng quẫn, ta quả thật chẳng nghĩ xa được đến thế.
Hắn chỉ cười nhàn nhạt:
“Một việc thiện trong ngày, cũng không vượt quá khuôn phép. Nếu người nào đó vì vậy mà so đo, thì vốn chẳng đáng kết thân.
Huống hồ cũng chẳng ai muốn gả cho một tú tài trắng tay như ta, cô đừng bận lòng.”
Ta lúc này chỉ có thể dùng vài lời lành để đáp tạ:
“Ngày sau công tử tất sẽ đỗ đạt cao, đến lúc ấy có khi còn cưới được công chúa.”
Hắn tuấn tú hơn cả Giang Tiêu, tuy mặc áo vải thô, vẫn toát lên phong thái của một công tử văn nhã.
Hắn bật cười:
“Được, xin mượn lời tốt lành của cô.”
6
Ta không tiện ra thành tìm việc, sợ chạm mặt người của Giang phủ, nên Cố Vị Đình giúp ta kiếm một công việc vá may trong quân doanh.
Chàng sợ ta là nữ tử, ra vào doanh trại bất tiện, nên mỗi ngày đều mang quần áo cần sửa về, ta vá xong, chàng lại đưa trở vào doanh.
Cứ như vậy, mẹ con ta ở lại nơi này.
Nay ta và Cố Vị Đình đều có thể kiếm chút bạc vụn, nhưng mẹ con ta ăn uống không nhiều, sang tháng Giêng, ta còn khai đất sau sân trồng rau.
Nam nhân chẳng giỏi việc trong nhà, từ khi ta đến, Cố Vị Đình liền đưa hết tiền cho ta giữ, hai tháng qua vậy mà còn có chút dư dả.
Ta lại nuôi vài con gà mái, đợi khi chúng đẻ trứng có thể mang vào thành bán. Ta tính toán, đến Trung thu, chắc có thể tích đủ lộ phí cho Cố Vị Đình lên kinh dự thi.
Huệ Nhi rất thích Cố Vị Đình, như cái đuôi nhỏ, suốt ngày ríu rít gọi “Thúc phụ! Thúc phụ!”
Một hôm, Cố Vị Đình dẫn con bé vào quân doanh chơi, khi trở về, ta nghe Huệ Nhi gọi chàng là “phụ thân”.
Ta giật mình, vội nói với con bé:
“Không được gọi như vậy, người khác nghe thấy, thúc phụ còn biết làm sao bàn việc hôn nhân?”
Huệ Nhi lí nhí đáp:
“Chúng ta ăn cùng, ngủ cùng, thúc phụ còn dẫn con đi bắt thỏ trong tuyết, trước đây phụ thân chẳng phải cũng như vậy sao?”
Ta đỏ mặt vì hai chữ “ngủ cùng”, vội vàng xin lỗi Cố Vị Đình:
“Xin công tử đừng để tâm lời trẻ con hồ đồ, ta sẽ dặn con bé không gọi như vậy nữa.”
Cố Vị Đình đang xếp lại đống y phục đã vá xong, trong ánh nến không rõ biểu cảm, chỉ nghe chàng nói:
“Trẻ con mà, thích gọi sao thì gọi vậy thôi.”
Chỉ là, từ đêm ấy, Cố Vị Đình dọn vào phòng chứa củi, tự mình sang đó ngủ.
Đầu xuân, Cố Vị Đình làm cho Huệ Nhi một chiếc diều. Ta dắt con bé ra sân thả, chẳng ngờ bị mắc lên cây quế trong viện.
Cố Vị Đình trèo lên lấy xuống, thoáng chốc khiến ta nhớ đến những ngày còn ở Giang phủ.
Tính ra, mẹ con ta rời khỏi đó đã gần ba tháng, vậy mà không hề có tin tức gì từ Giang Tiêu.
Người đàn ông lạnh lùng đến thế là cùng.
Từng có lúc ta nghĩ, nếu đợt ấy Huệ Nhi sốt cao mà mất, có lẽ ta sẽ quay về Giang phủ, giết chết Giang Tiêu và Trần thị!
Nhưng may mắn thay, Cố Vị Đình đã cứu Huệ Nhi, cũng cứu lấy ta.
Một hôm, Cố Vị Đình quên mang theo một bộ giáp đã sửa xong, ta liền luộc ít khoai, luộc trứng, lại rán bánh mang theo, cùng Huệ Nhi đến doanh trại tìm chàng.
Vừa đến cổng doanh, binh lính gác cổng liền mở cửa, còn gọi với theo Huệ Nhi:
“Cố Trình Huệ đến rồi, phụ thân muội đang ở trong đại trướng.
Đây là cố phu nhân phải không? Cố phu nhân thật khéo tay, y phục cô vá ta mặc đã lâu mà vẫn không tuột chỉ.”
Ta sững sờ — chuyện gì đang xảy ra vậy?
Người trong quân doanh ai cũng niềm nở, chỉ là ai ai cũng gọi ta là Cố phu nhân, đến mức khiến ta chỉ muốn tìm cái hố mà chui xuống.
Tới chiều, Cố Vị Đình mới từ trong đại trướng đi ra, thấy ta liền sửng sốt, tai cũng đỏ ửng.
Ta thầm nghĩ — rõ ràng là do chàng tự nói bậy, giờ còn biết ngượng?
Trên đường về, Cố Vị Đình cõng Huệ Nhi trên vai, lưng đeo sọt đầy y phục cũ. Thấy ta cầm trứng luộc, chàng nghiêng đầu lại gần.
Ta do dự một chút, cuối cùng vẫn giơ tay, đút cho chàng một miếng.
Huệ Nhi cười khúc khích, lấy tay che miệng trêu ghẹo. Ta thở dài, hỏi Cố Vị Đình:
“Công tử có biết vì sao Huệ Nhi tên là Trình Huệ không?
Mẫu thân ruột của con bé họ Trình, Giang Trình Huệ, là do phụ thân con bé đích thân đặt tên.”
Cố Vị Đình có chút bối rối, chắc không nghĩ đến chuyện này. Nhưng chàng nhanh chóng mỉm cười:
“Chuyện đó có sao đâu, ta chỉ nghĩ, trong nhà có nữ nhân may vá kiếm sống, lại mang theo hài tử, nếu không gọi là phu nhân và nữ nhi, người ngoài sẽ nhìn ta bằng ánh mắt thế nào?”
Ta nhìn chàng một lúc, thấy vẻ mặt vẫn bình thản, cuối cùng cũng nhẹ lòng.
Thì ra là ta nghĩ nhiều rồi.